RSS

Monthly Archives: Tháng Mười Hai 2011

10 triệu sắm hi-fi

Với ngân sách 10 triệu đồng, bạn hoàn toàn có khả năng sắm được bộ dàn âm thanh nghe nhạc stereo có độ trung thực cao

Với dân chơi âm thanh ít tiền, có thể chọn cách “kiến tha lâu đầy tổ” để được một bộ hi-fi như ý. Ảnh: A.Q

Nhưng phải chấp nhận giải pháp mua hàng second hand để có bộ dàn âm thanh gồm các thiết bị cơ bản: đầu CD, ampli tích hợp, cặp loa.

Giới chơi âm thanh thường phân chia ngân sách cho thiết bị theo công thức 40% tiền mua loa, 30 – 40% tiền mua preampli và ampli (hoặc ampli tích hợp), 20 – 30% cho đầu cơ CD và bộ giải mã (hoặc đầu CD). Khoản chi cho dây dẫn là 10%.

Tuy nhiên, tỷ trọng ngân sách kể trên chỉ đúng với hàng mới. Vì những sợi dây mắc tiền sẽ không thể phát huy tác dụng đối với bộ dàn ở tầm tiền này, bạn chỉ nên dùng các loại dây thường 4.000 – 5.000 đ/mét (dây loa), và dây interconnect loại 15.000đ/sợi.

Đặc điểm hàng hoá và giá cả của thị trường hàng second hand hiện nay cho phép bạn dùng tối đa ngân quỹ cho loa 60 – 80%, kế tới là ampli khoảng 20 – 35%, rồi mới tới đầu CD, khoảng 5 – 15%.

Kim Văn

Ampli

Ampli Marantz giá 5,2 triệu

Ampli tích hợp trên thị trường chủng loại cũng rất phong phú. Với ngân sách 2 – 3,5 triệu đồng là bạn dễ dàng sở hữu những model sản phẩm lừng lẫy một thời của Nad, Harman Kardon, Marantz, Luxman, Onkyo, Sansui, Denon… Mức giá kể trên áp dụng với những sản phẩm chưa bị sửa chữa, thay thế những linh kiện chính như sò hoặc IC, biến thế nguồn, tụ lọc nguồn…

Nhiều người chấp nhận giải pháp dựa vào thực tế nghe thử. Âm thanh có bị bên to bên bé, hay có tiếng ồn (tiếng ù, tiếng sôi) khi mở hết volume ampli, có mở CD nhưng không cho hát. Những cục nguồn bị thay thế, hoặc quấn lại thường gây hiện tượng rung khi máy hoạt động. Ngoài ra, bạn hãy thử hết các chức năng của máy, xem có trục trặc chức năng nào không.

Theo chúng tôi, với mức tiền này nên chọn các ampli Sansui (có đời từ Alpha trở về sau). Đời Alpha đầu tiên ra đời vào năm 1986. Một lý do nữa nên mua Sansui là do nguồn hàng Sansui rất nhiều, các cửa hàng không tăng giá được.

CD

Chỉ với 500.000 – 1.500.000 đồng (thậm chí 300.000đ) là bạn đã có thể sở hữu một đầu CD “ngon” thật sự.

Có nhiều nhất trên thị trường là các đời Sony: CDP 750, CDP 990, 222 ESD, 227 ESD, 228 ESD, 333 ESD, 555 ESD… Đặc điểm của Sony là dàn cơ tốt, mắt đọc lì đòn. Nhiều đời chạy con TDA 1541, 1543… chất âm ấm áp nhiều người thích.

Ngoài ra còn có vô số những Marantz, Nad, Denon, Onkyo, Pioneer… nhưng chúng tôi khuyến cáo nên chọn Sony vì hàng rất nhiều nên giá cả dễ chịu. Ngay con Sony 555 ESD ruột gan đỏ chói bởi tụ Elna Cerafine (một loại tụ hi -end), có sử dụng một số linh kiện cao cấp dùng cho thiết bị y tế, bạn cũng có thể dễ dàng mua được với giá xấp xỉ 1 triệu đồng. Trong lúc đó, những sản phẩm có “mùi” châu Âu như Philips, Marantz… có giá rất đắt do thị hiếu thích âm thanh châu Âu. Kỳ thực là rất khó nhận ra sự khác biệt về âm thanh ở mức tiền đầu tư này.

Lưu ý khi chọn đầu CD là nên thử cả đĩa copy và đĩa gốc. Những mắt đọc kém thường không đọc được những bài cuối của đĩa copy. Mắt đọc được thợ cân chỉnh quá mức lại không đọc được đĩa gốc. Tốc độ nhận đĩa, chuyển bài phải nhanh trong vòng vài giây. Vỗ nhẹ lên vỏ máy khi máy đang chạy xem có… sự cố gì không.

Khay đĩa ra vào phải êm ái, tốc độ chuyển động đều. Những dàn cơ kém thường chuyển động nhanh không đều, kêu rột roạt.

Loa

Loa Jamo giá 4,5 triệu

Còn khoảng 6 – 8 triệu đồng, rất dễ dàng chọn một bộ loa nghe được của Nhật, Mỹ, hay Anh. Wharfedale, Tannoy, B & W, Celescion, Kef… của Anh. JBL, Altec Landsing, AR… của Mỹ. Yamaha, Onkyo, Diaton… của Nhật.

Giới chơi âm thanh thống nhất cao là loa Anh hay nhất. Tuy nhiên, chọn loa của nước nào còn phụ thuộc vào gu nghe của bạn. Nhưng bạn đã chọn ampli bán dẫn công suất lớn, nên dù có mua loa của Anh, cũng không bị tình trạng làm giá quá mức (khác với việc chơi ampli đèn thường đòi hỏi loa độ nhạy cao). Một cặp Tannoy R2 đời mới đã qua sử dụng có giá 350 – 550 USD tuỳ tình trạng. Celescion SL6 chỉ 300USD. Và dòng Kef Q seri lừng danh cũng dễ dàng mua được với giá dưới 500 USD, bằng 1/3 giá lúc xuất xưởng.

Loa Mỹ hiếm và đắt, dòng Altec Landsing đang được chuộng lại không hợp ampli bán dẫn.

Loa Denon giá 4 triệu

Nếu xét về mức độ bề thế (kích thước, công suất) thì loa Nhật vẫn rẻ nhất. Cặp Yamaha NS – 1000M huyền thoại của Nhật cũng chỉ có giá 5 – 6 triệu đồng. Diaton được dân chơi Nhật rất chuộng nhưng ở Việt Nam giá vẫn rất rẻ, chỉ với 3,5 – 4,5 triệu là có thể sở hữu một cặp… to khủng bố.

Lưu ý khi mua loa là loa rất dễ bị tút, sửa chữa lại. Nên xem kỹ màng loa có còn nguyên vẹn, viền loa đã bị thay hay chưa, loại viền phổ biến được thay là loại chất liệu sờ giống như mút xốp. Nhìn vào khe của loa xem có dấu vết keo mới hay không? Loa quấn lại thường nghe bên to bên nhỏ. Có khi loa bị cạ côn rất nhẹ, khi bạn mua về nhà rồi nghe kỹ mới phát hiện bị lỗi.

Cuối cùng, câu nói cửa miệng của các dân chơi audio vẫn là: “Hãy quyết định bằng tai của bạn”

 
Leave a comment

Posted by on Tháng Mười Hai 21, 2011 in Âm thanh

 

Lịch sử ampli đèn

Chiếc ampli đèn đầu tiên năm 1906.

Cách đây hơn 100 năm (1904), chiếc đèn 2 cực chân không (diode) đầu tiên đã được nhà khoa học Anh John Ambrose Fleming giới thiệu. Phát minh này đã khai sinh ra ampli đèn mà uy danh của nó vẫn còn nguyên vẹn cho đến tận ngày hôm nay. Read the rest of this entry »

 
Leave a comment

Posted by on Tháng Mười Hai 21, 2011 in Âm thanh

 

Chơi đĩa nhạc xịn

Khi đã sắm dàn hi-end, dân chơi sẽ không tiếc tiền đầu tư cho phần đĩa xịn để cảm nhận sự khác biệt về âm thanh. “Nghề chơi cũng lắm công phu”, chơi đĩa xịn cũng đòi hỏi người nghe nhạc phải có một kiến thức nhất định. Read the rest of this entry »

 
Leave a comment

Posted by on Tháng Mười Hai 21, 2011 in Âm thanh

 

Chọn mua đầu CD

Thông thường, đầu đọc đơn 1 đĩa có chất lượng tốt hơn, do cơ chế hoạt động của nó đơn giản nhưng lại được thiết kế khá kỹ. Còn đầu đọc nhiều đĩa được sản xuất chủ yếu phục vụ thị trường bình dân, sử dụng linh kiện chất lượng thấp và được bán với giá cạnh tranh.

Với sự xuất hiện của hai định dạng âm thanh mới là SACD và DVD-Audio cũng như sự phục sinh của đĩa than, nhiều người chơi âm thanh có xu hướng hoài nghi về tương lai của đĩa CD trong vài năm tới. Tuy nhiên, có một thực tế là cả các nhà sản xuất thiết bị âm thanh lẫn các nhà sản xuất chương trình đều đang và sẽ tiếp tục tập trung khai thác thị trường CD truyền thống. Theo số liệu điều tra của tổ chức RIAA, trong tháng 5/2005, toàn nước Mỹ có có tới 756 triệu đĩa CD được bán ra, trong khi đó chỉ có 400.000 đĩa DVD-Audio và 1.300.000 đĩa SACD được người tiêu dùng chấp nhận! Có nghĩa là trong 445 đĩa tiếng được bán trên thị trường thì chỉ có 1 đĩa DVD-A hay SACD, còn lại là đĩa CD. Đây gần như là một tỷ lệ áp đảo tuyệt đối khiến cho người ta vẫn coi CD là “vua” trong thời điểm hiện tại và có lẽ, trong nhiều năm nữa.

Với những ưu thế hiển nhiên của đĩa CD như giá thành rẻ và nhiều chương trình, đầu đọc CD đã trở thành một thiết bị âm thanh không thể thiếu trong mỗi bộ giàn âm thanh gia đình. Bạn có thể dùng đầu đọc DVD hoặc đầu đọc đa năng để chơi đĩa CD, nhưng đó chỉ là giải pháp tình thế. Trong các đầu đọc đa năng, việc thiết kế tích hợp các mạch audio lẫn video trong cùng một bo mạch sẽ gây nên hiện tượng can nhiễu và không thể đem lại chất lượng âm thanh như đầu đọc CD chuyên dụng.

Theo kinh nghiệm của nhiều người chơi âm thanh, một đầu đọc đa năng hay đầu đọc SACD khi được dùng để đọc đĩa CD chỉ mang lại chất lượng âm thanh tương đương với một chiếc đầu đọc CD chuyên dụng có giá tiền chỉ bằng một phần ba hoặc một nửa. Vì vậy, đầu đọc CD vẫn là một sản phẩm hiện đang “hút hàng” và các hãng sản xuất thiết bị âm thanh ngày càng giới thiệu nhiều sản phẩm đầu đọc mới, từ bình dân (low-end) đến cao cấp (hi-end).

Nhưng làm thế nào để lựa chọn một chiếc đầu đọc CD vừa ý? Người tiêu dùng đôi khi lúng túng và mất phương hướng giữa muôn vàn nhãn mác và các lời quảng cáo sản phẩm được phóng đại của những nhà sản xuất. Tuy nhiên, trước khi chọn, người sử dụng nên trang bị cho mình một số kiến thức cơ bản về đầu đọc CD.

Đầu đọc CD được chia thành hai loại chính, đầu đọc 1 đĩa đơn (single-disc) và đầu đọc nhiều đĩa (multi-disc). Thông thường, những đầu đọc đơn 1 đĩa có chất lượng tốt hơn, do cơ chế hoạt động của nó đơn giản nhưng lại được thiết kế khá kỹ. Hiện nay, hầu như toàn bộ các đầu đọc chất lượng tốt đều là loại cơ đĩa đơn, với những linh kiện được chọn lựa cẩn thận.

Loại đầu đọc nhiều đĩa chủ yếu được sản xuất phục vụ thị trường bình dân và được bán với giá cạnh tranh, nhờ vào thiết kế đơn giản và sử dụng những linh kiện chất lượng thấp. Đa phần các loại đầu multi-disc đều là loại hoạt động theo cơ chế mâm quay. Một mâm đĩa phẳng có thể chứa được từ 3 đến 7 đĩa và nó cho phép người ta có thể vừa nghe nhạc vừa đổi đĩa. Ngoài hai loại trên, còn một loại đầu đọc mega-changers cho phép nạp nhiều loại đĩa (từ 25 đến 400 đĩa CD). Loại đầu đọc này cho phép vừa nghe nhạc, vừa nạp thêm đĩa hoặc thay đĩa trong ổ. Một vài loại đầu đọc mega-changers có chất lượng rất khá.

Lựa chọn loại đầu đọc nào là do sở thích nghe nhạc của bạn. Một số người không quá cầu kỳ trong việc thưởng thức chất lượng âm thanh và thích sự tiện dụng thì sử dụng loại đầu đọc nhiều đĩa hoặc loại mega-changers. Còn những tín đồ audiophile thì lại chọn đầu đọc 1 ổ đĩa. Mặc dù loại đầu đọc này khá bất tiện khi thay đĩa nhưng họ sẵn sàng chấp nhận sự bất tiện đó để đổi lấy chất lượng âm thanh. Thông thường, đầu đọc càng nhiều đĩa thì khả năng tìm kiếm những bài hát, bản nhạc mà bạn ưa thích càng khó. Điều đó lý giải tại sao một số loại đầu đọc dạng mega-changers phải có cổng nối với máy tính để tiện theo dõi danh sách các bản nhạc và duyệt chương trình cho đầu đọc làm việc. Một số đầu đọc loại này còn cho phép down load các thông tin về đĩa (danh mục, nội dung) từ Interrnet, thông qua cổng kết nối với máy tính.

Các bộ phận cơ bản của một đầu đọc CD bao gồm: mạch cấp nguồn, cụm quang học (mắt đọc laser), khối cơ servo (làm dịch chuyển cụm quang học và điều khiển motor quay đĩa); khối vi xử lý trung tâm và mạch hiển thị (display); khối xử lý tín hiệu âm thanh (lọc số, chuyển đổi D/A, khuyếch đại tín hiệu ra 2 kênh…).

Sau khi tín hiệu digital từ đĩa CD được mắt đọc tiếp nhận và qua quá trình xử lý, chuyển đổi, khuyếch đại phức tạp trong đầu đọc, nó trở thành tín hiệu audio được chuyển ra ngoài cho các thiết bị ampli, preampli hoặc receiver thông qua các ngõ ra analog được bố trí ở mặt sau của máy. Thông thường, ngõ ra analog là loại giắc RCA (còn gọi là giắc bông sen). Ngoài ngõ ra analog, phần lớn các đầu đọc CD đều có ngõ ra digital để kết nối với bộ DAC ngoài hoặc các thiết bị có cổng đầu vào tiếp nhận tín hiệu digital như receiver chẳng hạn. Ngõ ra digital cũng thường có hai loại: coaxial (đồng trục) và toslink (quang), trong đó cổng coaxial thường được sử dụng nhiều hơn và cũng mang lại chất lượng âm thanh tốt hơn. Ngoài các ngõ ra kể trên, một số đầu đọc cao cấp còn có ngõ ra BNC, XLR hay cổng 3 chân AES/EBU. Các ngõ ra này được thiết kế cho những loại dây tín hiệu đặc biệt, làm cho tín hiệu truyền đi đỡ nhiễu hoặc bị suy giảm.

Để mua được đầu CD tốt, ngoài việc quan sát mặt trước và sau máy, người mua nên kiểm tra các thông số của máy trong catalogue hay qua Internet. Đồng thời, cũng nên tìm hiểu sâu về thiết kế trong máy nếu có thể.

Dấu hiệu đầu tiên cho thấy đầu đọc được thiết kế kỹ lưỡng, chuyên nghiệp là phía sau máy có cổng ballance. Dấu hiệu thứ hai dễ nhận thấy là các đầu đọc cao cấp thường có ổ đĩa dạng top loading nằm ở mặt trên máy hoặc có bộ cơ kết cấu phức tạp, hay hệ thống cố định đĩa để chống lại lực ly tâm trong quá trình mô tơ quay với tốc độ cao. Tất nhiên, dấu hiệu trên cũng chưa hẳn là đúng vì nhiều đầu đọc cao cấp vẫn bố trí ổ đĩa theo kiểu truyền thống. Dấu hiệu thứ ba là những đầu đọc cao cấp khi dùng tay nhấc lên, bạn thường thấy khá nặng do máy có nhiều biến áp và vỏ máy được gia cố để chống rung. Dấu hiệu thứ tư là các đầu đọc có tầng khuếch đại bằng đèn (tube) hoặc khuyếch đại bằng biến thế kết hợp với đèn, thường là những đầu đọc cao cấp.

Ngoài ra, người sử dụng cũng nên tham khảo những thông số của máy trong catalogue hoặc những thông tin mà có thể tìm hiểu được trên Internet. Thông thường, tần số lấy mẫu và số bit càng cao thì chứng tỏ đầu đọc đó xử lý càng tốt. Chẳng hạn một đầu đọc có khả năng upsampling lên tới 192kHz/24 bit sẽ có độ phân giải, độ chính xác tốt hơn rất nhiều. Tuy nhiên, lý thuyết này cũng chỉ đúng trong phần lớn trường hợp chứ không phải tất cả. Một số đầu đọc 14 bit được sản xuất từ rất lâu vẫn đem lại một thứ âm thanh đặc biệt mà các đầu đọc đời mới chưa chắc đã đạt được.

Tỷ lệ S/N (signal to noise ratio) cũng là một thông số quan trọng. Tỷ lệ này càng cao thì chứng tỏ đầu đọc càng tốt. Thông thường tỷ lệ này không vượt quá 96dB. Ở một số đầu đọc cao cấp, tỷ lệ này đạt trên 100dB.

Nếu có khả năng tìm hiểu sâu hơn về thiết kế bên trong của máy thì bạn nên chú ý tới kết cấu các khối mạch và linh kiện được sử dụng. Nhiều đầu đọc chất lượng cao được thiết kế theo kiểu mạch cân bằng (hoặc mạch đối xứng) mà qua quan sát có thể dễ dàng nhận thấy. Một đầu đọc chất lượng tốt thường có 2 biến thế nguồn to và nặng, được bọc kim cho 2 mạch đối xứng. Một số đầu đọc sử dụng tới 3 biến thế nguồn. Các mạch cơ, mạch DAC, tầng ra analog, tầng ra digital… được tách biệt thành từng khối để tránh hiện tượng can nhiễu lẫn nhau. Thân máy cũng chia thành nhiều ngăn, nhiều lớp; các vỉ mạch thành phần tách rời nhau, hay bố trí chồng lên nhau thành các lớp. Những bó dây bên trong máy được sắp xếp ngăn nắp, khoa học, không chồng chéo lên nhau; IC đều được bọc lớp chống nhiễu. Linh kiện (tụ, trở, diod) của các đầu đọc cao cấp là loại đặc chế cho audio.

Bộ giải mã DAC của đầu đọc cũng là một thông tin quan trọng giúp cho nhận biết chất lượng của đầu đọc. Một số giải mã được dân chơi âm thanh ưa chuộng như TDA 1541 (1541A, 1541AS1, 1541AS2), TDA1547, PCM63, PCM1702, PCM1704, AD1865, dCS ring DAC, SA7350… Các đầu đọc cao cấp thường lắp nhiều giải mã song song để nâng cao khả năng phân giải của đầu đọc. Tất nhiên ngoài bộ giải mã còn nhiều yếu tố khác ảnh hưởng tới chất lượng âm thanh; nhưng một đầu đọc hay không thể sử dụng bộ giải mã loại chất lượng thấp.

Bộ cơ của máy cũng là một dấu hiệu để nhận biết chất lượng. Một số bộ cơ nổi tiếng thường được sử dụng trong các đầu đọc CD như cơ CDM của hãng Philips, cơ chống rung VRDS của hãng TEAC, hay cơ cu-roa (belt) của hãng CEC.

Công nghệ số thay đổi không ngừng. Các đầu đọc CD hiện tại có các thông số kỹ thuật tốt hơn nhiều so với các đầu đọc thế hệ cũ. Tuy nhiên, không chỉ ở Việt Nam mà trên toàn thế giới, vì nhiều lý do khác nhau, nhiều người chơi âm thanh sành sỏi vẫn thích dùng đồ second hand hơn là đồ “brand new”.

Thông thường, các đầu đọc đời mới có khả năng đọc được nhiều định dạng đĩa, khả năng sửa lỗi tốt hơn, cập nhật nhiều kỹ thuật mới và có thêm nhiều chức năng, tiện ích. Song, các đầu đọc CD đời mới chất lượng cao thường rất đắt tiền, vượt ra ngoài tầm với của nhiều người; đặc biệt là ở thị trường Việt Nam khi phần lớn người chơi âm thanh có thu nhập thấp. Trong khi đó một chiếc đầu đọc CD đã qua sử dụng thì giá của nó sẽ giảm tương đối để vừa với khả năng đầu tư của nhiều người. Khá nhiều đầu đọc CD đời cũ đã thành danh trên thị trường, hiện vẫn chứng tỏ khả năng vượt trội về chất lượng so với đầu đọc đời mới có cùng tầm tiền.

Tất nhiên, chọn lựa đầu đọc cũ cũng chứa đựng nhiều rủi ro và bạn phải có một chút ít kiến thức để hạn chế những rủi ro đó. Đa phần căn bệnh của các đầu đọc đời cũ là mắt đọc bị yếu hoặc một số rất kén đĩa. Mua đầu đọc cũ cũng có nghĩa là phải chấp nhận một điều kiện bảo hành ở mức tối thiểu cùng những nguy cơ hỏng hóc cao do nó đã qua một thời gian sử dụng khá dài và trong phần lớn các trường hợp, các đầu đọc cũ đều có lai lịch không rõ ràng.

Công nghệ số tiếp tục có rất nhiều thay đổi trong tương lai. Vì vậy, khi đầu tư một khoản tiền đáng kể để sắm một chiếc đầu đọc CD, bạn phải nghĩ rằng sẽ có ngày phải thay thế hoặc nâng cấp nó. Một chiếc đầu đọc cao cấp sẽ đem lại cho bạn cảm giác hài lòng với nó trong một thời gian khá dài. Nhưng không phải ai cũng có khả năng sắm một chiếc đầu đọc đắt tiền. Bạn có thể xem xét một trong những phương án đầu tư sau:

Mua một chiếc đầu đọc có chất lượng và được nhiều người đánh giá tốt. Với những sản phẩm này, việc nhượng lại hoặc trao đổi sẽ dễ dàng hơn và bạn sẽ chỉ phải chịu một mức chiết khấu thấp vì thị trường dễ dàng chấp nhận những đầu đọc đã thành danh.

Mua một chiếc đầu đọc có bộ cơ tốt vì trong tương lai bạn có thể đầu tư tiếp cho bộ DAC rời và tận dụng đầu đọc này như một bộ cơ.

Chọn lựa một đầu đọc có khả năng nâng cấp bằng cách thay thế linh kiện, cải tạo lại nó để đạt tới chất lượng âm thanh tốt hơn. Trường hợp này đòi hỏi bạn phải có một chút hiểu biết về kỹ thuật.

 
Leave a comment

Posted by on Tháng Mười Hai 21, 2011 in Âm thanh

 

Chơi loa Hi-end

(Thế Giới @) – Chọn mua bộ loa không quá khó, cái khó là sự hòa hợp của bộ loa với dàn âm thanh cũng như làm thỏa mãn đôi tai của người nghe

Chơi loa – mốt mới

Giữa một rừng loa đủ loại thì việc tìm kiếm một bộ loa hay, ăn ý với dàn âm thanh cần ở người mua sự kiên trì, nhẫn nại và niềm đam mê mãnh liệt. Bởi lẽ một bộ loa như những viên đá thô sơ, cần sự kết hợp tài tình đầy kinh nghiệm của người chơi, giúp nó lột tả được hết sự sâu lắng, thăng trầm, bay bổng hay dữ dội của âm thanh. Do đó, chọn loa đôi khi đầy may rủi nhưng nếu may mắn, những đôi tai khó tính sẽ được mãn nguyện.

Nguồn gốc của ngành công nghiệp loa được cho là vào thập niên 1920, khi hai nhà nghiên cứu Chester Rice và Edward Kellogg của hãng General Electric đưa ra mô hình loa điện động màng nón. Cho đến nay, loa đã có hàng chục chủng loại như loa kèn, loa đồng trục, loa mành tĩnh điện, loa đa hướng, loa kỹ thuật số… Read the rest of this entry »

 
Leave a comment

Posted by on Tháng Mười Hai 21, 2011 in Âm thanh

 

Nghe và đánh giá thiết bị nguồn âm Digital

Cũng như các thiết bị khác, mỗi đầu đọc đều mang một “màu âm” riêng. Sản phẩm của mỗi hãng cũng có những đặc trưng âm thanh khác nhau. Điều này khiến người chơi khá lung túng khi chọn lựa, song lại tạo ra vô số cơ hội để họ tìm được sản phẩm phù hợp nhất với gu nhạc và hệ thống dàn âm thanh của mình. Những khác biệt ấy có thể nói chính là ý nguyện mà các nhà sản xuất gửi gắm vào sản phẩm với mong muốn mang lại “đường nét” riêng cho chúng. Vậy bí quyết để đánh giá và lựa chọn đầu đọc là như thế nào? Read the rest of this entry »

 
Leave a comment

Posted by on Tháng Mười Hai 21, 2011 in Khác

 

Để trở thành người nghe giỏi

HFVN – Việc nghe thẩm định – nghe để đánh giá chất lượng thiết bị audio bằng cách lắng nghe và phân tích – hoàn toàn khác với nghe thưởng thức.

Mục đích của nghe thẩm định không phải dành cho những trải nghiệm về âm nhạc mà để quyết định xem hệ thống hoặc thiết bị audio đó có âm thanh hay hay dở và lý do tại sao. Khi muốn kiểm chứng những gid đã nghe, người nghe nên xác định các giá trị cần được đánh giá với việc tái tạo âm thanh. Người nghe có thể sử dụng những thông tin đó để đánh giá và lựa chọn thiết bị, phối ghép nên hệ thống hoàn thiện.

TẦM QUAN TRỌNG CỦA NGHE THẦM ĐỊNH

Việc đánh giá dựa trên đôi tai là điều thiết yếu, bởi các thiết bị đo lường chưa đủ khả năng mô tả chất lượng trình diễn âm nhạc của các sản phẩm audio. Cơ chế nghe của con người nhạy cảm và phức tạp hơn trăm ngàn lần thiết bị kiểm định tiên tiến nhất. Dù thông số kỹ thuật là cơ sở đáng tin cậy để lựa chọn thiết bị, nhưng đôi tai mới là nhân tố phán quyết cuối cùng. Hơn nữa, sự khác biệt trong khả năng biểu đạt cảm xúc âm nhạc của mỗi thiết bị chỉ có thể cảm nhận theo cách chủ quan.

Nhiều người khi mới tiếp xúc với thiết bị tái tạo âm nhạc chất luộng cao thường đặt câu hỏi: “Dựa vào đâu để đánh giá thiết bị audio?” Đa phần tin rằng: chỉ cần dựa vào đo lường kỹ thuật là có thể đánh giá các yếu tố có liên quan đến khả năng trình diễn của sản phẩm. Nhưng thực tế không phải vậy. Nếu thiết bị đo lường làm được điều đó thì tạo sao vẫn cần những buổi nghe thẩm định nặng tính chủ quan do đôi tai người nghe quyết định?

Hơn nữa, thiết bị đo lường, kiểm tra và so sánh sản phẩm audio có xu hướng lượng hóa các yếu tố theo hai chiều: độ méo của sản phẩm, tần số đáp ứng, độ can nhiễu và một số yếu tố khác. Tuy nhiên, nghe nhạc là trải nhiệm ba chiều mà độ phức tạp của nó cao gấp nhiều lần bất kỳ tập hợp số nào (kết quả quá trình lượng hóa). Làm sao người nghe có thể biến đổi các biểu thức toán học . Vật lý ra quyết định nên chọn ampli nào? Và liệu những biểu thức phức tạp ấy có lý giải được tại sao bản nhạc đó lại có thể khiến người nghe rung động đến mức gai người!

 

Dẫu có sử dụng bao nhiêu thiết bị đo lường tối tân, thì cũng không thể đo được mức độ biểu nhạc âm nhạc của các thiết bị audio. Nếu phải lựa chọn một trong hai đầu dọc CD làm người chơi nhạc trong 5 năm tới, tôi thà dùng 10 phút để nghe từng thiết bị trong phòng nghe còn hơn dùng 10 giờ với mỗi thiết bị trong phòng kiểm định. Đến thời điểm, các thiết bị kiểm định vẫn chỉ là công cụ thô sơ, thua xa bộ lão người.

 

Hầu hết người nghe có thể chỉ ra sự khác biệt giữa âm thanh hay âm thanh dở. Nhưng việc khám phá sản phẩm đó đạt yêu cầu về nhạc tính không, khả năng nhận biết và mô tả những điển khác biệt (dù nhỏ nhất) trong âm thanh.. đều là những kỹ năng cần rèn luyện.giống như các kỹ năng khác, khả năng nghe thẩm định sẽ được nâng cao thông qua thực hành: nghe càng nhiều, càng có thể cảm nhận được những điểm khác biệt nhỏ trong âm thanh do hệ thống tái tạo để từ đó mô tả sự khác biệt giữa trong âm thống của mỗi loại thiết bị và lý giải nguyên do.

 

PHẨM CHẤT CỦA AUDIOPHILE

Âm thanh hay đồng nghĩa với thỏa mãn về cảm xúc âm nhạc được tái tạo bởi hệ thống audio. Nếu ai đó mời bạn đến nhà thưởng thức hệ thống hi-fi, bạn có thể nhận thấy anh ta là người yêu nhạc hay người mê máy (chỉ tập chung vào âm thanh nhiều hơn là âm nhạc). Nếu anh ta bật nhạc thật to, liên tục đổi đĩa và các trach nhạc rồi sau 30 giây lại vặn nhỏ để dò nhận xét nhận định của bạn, chắc hẳn đây không thể là người yêu nhạc. Ở trường hợp khác, nếu anh ta hỏi bạn thích nghe loại nhạc gì và chọn chương trình để chơi với âm lượng vừa phải rồi ngồi cùng bạn nghe trong vài chục phút, rất có thể người đó đã có những phẩm chất mà một audiophile cần có hoặc đơn giản anh ta là người rất quan tâm đến âm nhạc. Trường hợp đầu tiên, người đó muốn gây ấn tượng với bạn bằng âm thanh. Trường hợp thứ hai, người đó muốn gây ấn tượng bằng hệ thống của họ, nhưng thông qua âm nhạc chứ không phải âm thanh khiến căn phòng rung động. Đó là điểm khác biệt căn bản giữa người chơi máy và người yêu nhạc.

Ampli đèn điện tử có tên gọi “đèn single-end ba cực” là minh chứng tiêu biểu cho sự hạn chế của các công cụ đo lường trên khía cạnh hiệu quả về tái tạo âm nhạc của các thiết bị audio. Tất cả ampli đèn single-end ba cực đều cho kết quả đo tệ đến mức thảm hại với độ méo cao, công suất cực thấp (hầu hết dưới 10W/kênh) và chỉ có thể chơi với một số loa nhất định. Song chính loại ampli này lại cho âm thanh truyền cảm, mê hoặc không thể chối cãi.

Có nhiều người chỉ mới nghe nhạc được một lúc đã bình phẩm ưu/nhược của hệ thống. Rất có thể họ bị tác động bởi những âm thanh nhào nhoáng từ các show room hay ở nhà một người chơi máy nào đó. Khi bạn bắt đầu nghe nhạc ở nhà người khác hoặc cửa hàng audio, không nhất thiết phải bộc lộ quan điểm của mình về âm thanh. Hãy ngồi tĩnh nặng và tập trung nghe để âm nhạc (chứ không phải âm thanh) cho bạn thấy hệ thống đó hay đến mức nào.

Khi nghe cùng với một nhóm, bạn cũng không nên bị lung lay bởi ý kiến của những người xunh quanh. Tuy nhiên, nếu họ là những người nghe giàu kỹ năng, bạn nên cố gắng hiểu những gì họ đang bàn luận. Lắng nghe những mô tả, so sánh ý kiến của họ với cảm nhận của bạn. Song cũng không nên giữ khư khư những nhận định của người khác trong đầu. Ví như trong trường hợp bạn không cảm nhận được sự khác biệt giữa hai sợi dây tín hiệu, đừng ngại nói ra điều đó. Hơn nữa, bạn cũng lên thành thực bày tỏ ý kiến khi được hỏi về hệ thống nào đó mà mình được nghe. Nếu âm thanh dở, hãy cho họ biết bạn thấy nó dở.

Bất kỳ thiết bị audio nào cũng ảnh hưởng đến tín hiệu âm thanh đi qua. Một số sản phẩm bị sai âm khi thêm thắt những đặc tính không đáng có ví như tiếng treble sạn âm bass lùng bùng. Một số thiết bị khác lại khiến cho âm thanh bị hụt, chẳng hạn một cặp loa nhỏ không thể tái tạo những tần số cực thấp. Nếu nột số âm thanh nào đó của bản nhạc không được tái tạo chọn vẹn, tiền thức từ não bộ sẽ cho bạn biết âm thanh đó thiếu những yếu tố nào gì? Song bạn vẫn có thể thưởng thức âm nhạc một cách thỏa mái. Tuy nhiên, nếu hệ thống tái tạo lại thêm một số đặc tính cho âm thanh, bạn sẽ luôn bị ám ảnh rằng những gì bạn đang nghe là sản phẩm tái tạo, không phải “đồ thật”.

Một audiophile có kiến thức sâu rộng về âm nhạc và có kinh nghiệm về việc chúng được tái tạo như thế nào mới hiểu được tầm quan trọng của sự khác biệt (dù nhỏ nhất) trong việc tái tạo âm thanh của bộ dàn. Những cải thiện nhỏ có thể mang lại khác biệt khác biệt lớn trong màn hình diễn của hệ thống.

“BẪY” KHI NGHE THẨM ĐỊNH

Có một số điểm đáng quan ngại khi phát triển kỹ năng nghe thẩm định, đó là phân biệt giữa nghe thẩm định và nghe thưởng thức. Một khi đã tập trung toàn bộ tinh thần và dán định chất lượng âm thanh, bạn có thể dễ dàng quên mất lý do đã đưa mình đến thế giới của audio là âm nhạc, Điều này cũng có thể khiến bạn có thói quen không mấy dễ chịu, đó là hễ nghe nhạc là phải tập trung để đưa ra đánh giá xem đúngsai về âm thanh. Trong khi đó, thiết bị hi-and thường có màn trình diễn tốt đến mức người không cảm thấy sự hiện diện của các thiết bị phần cứng. Khi nghe nhạc để thưởng thức, người nghe thường không để ý đến thiết bị và quên việc nghe đánh giá. Chỉ nên chuyển sang trạng thái nghe thẩm định khi người nghe cần quyết định lựa chọn sản phẩm hoặc luyện nghe để trở thành người nghe tinh. Một audiophile có bản lĩnh thường xuyên xác định được ranh giới giữa nghe thẩm định và nghe thưởng thức và biết khi nào nên vượt qua ranh giới đó.

Khi chúng ta cho tín hiệu đi qua thiết bị audio, thì kết quả đầu ra không bao giờ bằng tín hiệu gốc. Do đó, người chơi nên tối giản các linh kiện, thiết bị trong hệ thống, loại bỏ nhưng thiết bị điện tử không thực sự cần thiết giữa người nghe và âm nhạc.

Cũng có một nguy cơ tiền ẩn khác, đó là khi tiêu chuẩn về âm thanh theo đôi tai của bạn đã được nâng đến mức mà ở đó các thiết bị audio không đáp ứng được những chuẩn này thì bạn không thể thưởng thức âm nhạc chọn vẹn. Điều quan trọng là không thể để mong muốn trở thành audiophile cản trở thú vui thưởng thức âm nhạc của bạn vì bất kỳ lý do nào!

 

Một trong những khó khăn lớn nhất của nghe thẩm định là tìm ra ngôn từ phù hợp để mô tả những cảm nhận và trải nghiệm trong quá trình nghe. Vốn từ mô tả những phẩm chất âm thanh không chỉ cần thiết trong việc truyền đạt lại những gì nghe được cho người khác mà còn giúp người chơi tự ghi nhận và thấu hiểu với những trải nghiệm của bản thân. Bài viết này đề cập đến những khái niệm và vốn từ vựng dùng để mô tả phẩm chất âm thanh của thiết bị audio.

Trước khi mô tả từng khái niệm cụ thể, chúng tôi muốn độc giả nắm được hệ thống thuật ngữ dùng để mô tả dải tần âm thanh. Dải tần số âm thanh mà tai người nghe thấy trải dài trên 10 quãng tám bắt đầu từ 16Hz đến 20kHz, có thể chia thành một số vùng cụ thể theo bảng dưới đây.

SỰ CÂN BẰNG VỀ GIỌNG (TONAL BALANCE)

Khía cạnh đầu tiên trong màn trình diễn âm nhạc của mỗi thiết bị mà người nghe cầu lưu tâm là sự cân bằng về chất giọng , sự hài hòa cân bằng giữa âm bass, mid hay treble của thiết bị đạt đến mức nào. Nếu âm thanh có xu hướng nhiều trele, có thể gọi là thiết bị thiên sáng. Nếu âm bass lấn át các dải khác, thiết bị đó được coi như có chất tiếng nặng. Ngược lại, nếu có quá ít âm bass, có thể coi thiết bị đó mỏng tiếng, nhẹ bass hoặc thiên cao. Sự cân bằng về giọng của thiết bị audio đặc biệt có ý nghĩa, thường ảnh hưởng lớn đến âm điệu của nó.

ÂM HÌNH (OVERALL PERSPECTIVE)

Thuật ngữ âm hình mô tả khoảng cách hiện hữu giữa người nghe và âm nhạc. Âm hình chủ yếu thể hiện khoảng cách giữa người trình diễn với microphone. Tuy nhiên, nó cũng chịu ảnh hưởng của các thiết bị tái tạo trong hệ thống. Một số thiết bị khiến màn trình diễn như vậy được đẩy lên phía trước, hướng đến người nghe. Trong khi đó, một số thiết bị khác lại có xu hướng kéo lùi sân khấu lại phía sau. Thiết bị có âm hình tiến thể hiện âm nhạc ở phía trước cặp loa, sản phẩm có âm hình lùi thể hiện âm nhạc hơi lùi về phía sau loa.

 

Một số thuật ngữ khác cũng được sử dụng để mô tả âm hình. Ví như từ khô (dry) thường dùng để mô tả âm thanh thiếu độ vang và không gian, nhưng cũng có thể hiểu được nếu ám chỉ âm hình hơi tiến. Một số cụm từ khác có thể dùng để mô tả âm hình tiến như: trực tiếp (immediate), sắc tiếng (incisive), tấn công (aggressive), chói lọi (vivid)… Những thuật ngữ đi kèm với âm hình lùi thường được dùng như: dịu (easygoing), nhẹ nhàng (gentle)…

TIẾNG TREBLE

Tiếng treble hay là yếu tố không thể thiếu trong hệ thống tái tạo âm nhạc chất lượng cao. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều sản phẩm audio xuất sắc lại không thể thỏa mãn yêu cầu về nhạc tính bởi sự yếu kém trong phần trình diễn tiếng trele.

Những đặc tính của tiếng treble mà người chơi audio muốn tránh được thể bhiện qua những thuật ngữ như: sáng (tươi), rối, tiến, tấn công, cứng giòn, sắc, khô, nhợt, chuột, chói, đanh, rít, sạn…

Thiết bị audio có tiếng treble với những đặc điểm trên thường khiến người nghe cảm thấy không thoải mái trong quá trình nghe nhạc. Khi đó, người nghe có cảm giác như tiếng trle không hòa nhập với màn hòa âm tổng thể của bản nhạc, mà tách rời “một mình một điệu”. Trong trường hợp này, người nghe sẽ nhận biết tiếng treble như một thực thể riêng biệt mà không còn là yếu tố cấu thành nên âm nhạc. Một số nguyên nhân chính gây ra vấn đề trên như: chất lượng của loa tweeter (loa treble) trong cặp loa, phòng nghe bị dội âm (cao) quá nhiều, các thiết bị nguồn digital (thường là đầu đọc CD), pre-ampli, ampli công suất, dây dẫn và nguồn điện bẩn, nhiễu.

Nhũng thuật ngữ được liệt kê sau đây thường dùng để mô tả tiếng trele hay như: mượt, ngọt, êm, mịn, nhẹ, dịu… Khi tiếng trele trở nên quá mượt, người ta thường sử dụng từ ướt át hay ủy mị để chỉ âm thanh của thiết bị. Có thể hiểu, những thuật ngữ như “mượt, ngọt và mịn” được sử dụng như sự khen tặng. Ngược lại, “ướt át, ủy mị” cho ta thấy tiếng treble đã vượt quá giới hạn cân bằng và thiết bị đã trở nên sai âm.

Những thiết bị có chất tiếng nhạt, đơn điệu, chậm, dày, hẹp và thiếu chi tiết thường có tiếng treble vượt quá mức mượt mà cần thiết. Một số thiết bị khác lại khiến màn trình diễn âm nhạc thiếu sức sống, khôg gian, độ mở, sự dàn trải nếu tiếng treble quá mềm. khi đó, âm nhạc chỉ được tái tạo trong phạm vi hẹp, thiếu độ mở và độ lớn.

Không gian của quãng tám cao nhất thể hiện sự (gần như) không có giới hạn trong độ mở của tiếng treble, khiến người nghe như thấy được lớp không khí bao xung quanh mỗi âm thanh nghe thấy từ nhạc cụ và giọng hát. Những hệ thống không tái tạo được quãng tám cao nhất thường không thể hiện được độ chi tiết của không gian âm nhạc.

Tiếng treble hay nhất giống với âm nhạc thực nhất. Để đạt tới điều này, tiếng treble phải giàu năng lượng. Vì như tiếng cymbal thật nghe rất mãnh mẽ mà không sạn hay bị khô. Âm thanh tái tạo chỉ được gọi là thành công khi loại bỏ những âm thanh mà trong nhạc sống không có. Hơn thế, tiếng treble phải là yếu tố cấu thành và hài hòa với tổng thể âm nhạc chứ không phải là thứ tiếng ồn ở dải tần cao khiến người nghe khó chịu.

theo HFVN

 
Leave a comment

Posted by on Tháng Mười Hai 21, 2011 in Âm thanh

 

Định nghĩa các thể loại nhạc

Khi nghe nhạc và thưởng thức âm nhạc, những kiến thức âm nhạc này hy vọng sẽ làm cho các bạn có được sự cảm nhận đúng đắn và sâu sắc hơn.

 

Nhạc Jazz

Jazz là một nét văn hoá bản xứ ban đầu chỉ của riêng người Mỹ và đã được tạo ra bởi người Mỹ. Âm nhạc phương Tây và châu Phi là nơi đã gieo hạt nên jazz, nhưng chính văn hoá Mỹ mới là nơi jazz nảy mầm và phát triển. Jazz không phải là loại nhạc của người da trắng, cũng chẳng phải là của người da đen, mà nó là cả một câu chuyện về những phong tục, di sản và cả triết học.

Trong suốt những năm đầu tiên phát triển của đất nước Mỹ, chế độ sở hữu nô lệ được coi là một chuẩn mực. Nô lệ bị ép buộc đến từ châu Phi phải làm việc vất vả trong các đồn điền của người Mỹ. Những nhạc công và những tài năng âm nhạc trong số đó đã học được rất nhanh nền âm nhạc vốn có sẵn của phương Tây, cùng lúc đó, âm nhạc phương Tây cũng đã có không ít bài học về âm nhạc Phi châu.

Nền văn hoá sơ khai của châu Phi coi trọng âm nhạc hơn phương Tây rất nhiều. Âm nhạc là một khía cạnh quan trọng trong những hoạt động hàng ngày của thổ dân châu Phi. Thổ dân châu Phi rất coi trọng các hoạt động theo nhịp điệu khá phức tạp và tiến bộ dựa trên một ca từ và giai điệu đơn giản. Những nét nhịp điệu này đã gắn liền với nô lệ châu Phi trong suốt thời gian họ bị bắt ép làm nô lệ ở Mỹ.

Hơn nữa, một số những người Mỹ da đen mới cũng thể hiện mình thông qua nét âm nhạc truyền thống của họ. Vì cách xa quê hương nên âm nhạc truyền thống một phần cũng không thể thể hiện chính xác được vì rất nhiều lý do, ví dụ như không được sử dụng các nhạc cụ châu Phi truyền thống. Có thể hiểu như một ban nhạc rock của các nghệ sỹ châu Phi khi biểu diễn ở Mỹ không được sử dụng bất cứ một cây guitar điện, một dàn trống… Tuy vậy, ban nhạc này vẫn đủ nội lực để có thể sử dụng các nhạc cụ có sẵn tạo ra âm nhạc của mình và điều này là chính xác đối với các nô lệ da đen ở Mỹ.

Bên cạnh việc tìm các nhạc cụ mới, các nhạc sỹ châu Phi cũng đã mở rộng mình để tìm hiểu âm nhạc của phương Tây. Sự mở rộng này là khởi nguồn nảy mầm của nhạc jazz. Những ca từ, giai điệu, nhịp điệu, và cả văn hoá Tây phương không ít thì nhiều cũng đã dần thấm vào những người da đen. Tất nhiên, các nhạc sỹ da trắng cũng đã bị ảnh hưởng nhiều khi nghe nhạc của người da đen. Thời gian trôi qua, và sự trao đổi âm nhạc này đã tạo ra Jazz.

Một số các nghệ sỹ đã nổi lên vào thời điểm này như Don Redman (saxophone), Bix Beiderbecke (trumpet), Fletcher Henderson (band leader), Jelly Roll Morton (piano/composer), và Kid Ory (trombone/composer).

Một nghệ sỹ đã trở nên chín chắn và được mọi người thán phục vào thời kỳ này là Louis “Satchmo” Armstrong (trumpet). Armstrong đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát triển nhạc Jazz, vì vậy nhiều người gọi ông là “cha đẻ” của Jazz. Muốn thêm thông tin thì có thể vào trang web http://louis-armstrong.net

Vào thời của Armstrong, các nhạc sỹ gọi ông là “Pops” như là dấu hiệu của sự kính trọng. Armstrong là nghệ sỹ solo lớn đầu tiên trong lịch sử nhạc Jazz và những nốt nhạc phiêu du của ông đánh dấu một bước ngoặt trong Jazz với việc xuất hiện những khúc solo ngẫu hứng mà trước đây là của một nhóm nhạc sỹ. Satchmo cũng là người đầu tiên đã định lại nhịp điệu của Jazz bằng cách bỏ tính cứng nhắc trong Ragtime, áp dụng nhịp 8 nốt du dương, và làm cho người nghe cảm tưởng những nốt nhạc của ông luôn đi sau nhịp của bản nhạc. Tất cả những thay đổi này khiến người nghe có cảm giác thư giãn và được gọi về sau là Jazz swing.

Armstrong mang đến một cách nghĩ mới, âm nhạc của ông được dựa trên một cấu trúc chặt chẽ và không phải chỉ là một nét tô điểm thêm cho bản nhạc mà trái lại là một giai điệu riêng dựa trên các hợp âm đã có sẵn(khái niệm âm nhạc này vẫn còn được áp dụng cho các khúc ngẫu hứng hiện nay).

Bên cạnh tiếng trumpet đầy cảm xúc của mình, Armstrong có một cách hát ảnh hưởng rất nhiều đến các ca sỹ hát Jazz. Ông đã phổ biến một lối hát Jazz không thành lời (scat). Trong lối hát này, các ca sỹ hát ngẫu hứng các âm tiết thay cho các từ.

 

Nhạc Blues

Cùng với nhạc Jazz, nhạc Blues có nguồn gốc từ những bài ca lao động, tôn giáo và dân ca của người Mỹ da đen được người Mỹ da đen khởi xướng vào đầu thế kỷ 20. Nhạc Blues thường buồn, vì thế nên có tên Blues (buồn) Nhạc Jazz thường được biểu diễn bằng kèn, giai điệu réo rắt.

Khởi nguồn của Blues không đơn giản một cách chắc chắn như là đã được khắc lên đá. Trong một vài năm, đã có rất nhiều chuẩn mực về giai điệu, cách hoà âm được thiết lập, và những chuẩn mực này đã và vẫn đang được biểu diễn rộng rãi. Blues có thể rất buồn, hạnh phúc, chậm, nhanh, không lời, ca khúc… và thậm chí là bất cứ nét nhạc nào do các nghệ sỹ viết ra.

Lịch sử của các giọng hát nhạc blues được chia thành hai nửa. Mỗi nửa thể hiện một giai đoạn khác nhau. Nửa đầu tiên vào khoảng cuối thế kỷ XIX đến những năm 1930. Nửa này ghi nhận hai phong cách hát blues riêng biệt. Phong cách thứ nhất có thể được coi là country hoặc rural-blues trong khi đó phong cách còn lại được gắn mác city hoặc urban-blues ().

Nhạc blues đồng quê được hát bởi những người đàn ông với nhạc cụ và phần nhạc đệm đơn giản. Những ca sỹ hát nhạc blues thời đó thường chỉ có cây guitar là nhạc cụ duy nhất để đệm cho mình. Ca từ cũng rất đơn giản và âm nhạc thật sự rất mộc mạc và không hề được gọt dũa. Một số ca sỹ nam nổi tiếng được ghi vào sử sách có thể kể tới là Lightnin’ Hopkins, Huddie Ledbetter, Big Bill Broonzy, và Blind Lemon Jefferson.

Nhạc blues thành phố bao gồm cả giọng ca của các ca sỹ nam và nữ. Âm nhạc ở đây tao nhã và tinh tế hơn nhạc blues đồng quê. Thay bởi phần nhạc nền đơn giản, những ca sỹ nhạc đồng quê thành phố còn có thể sử dụng một nhóm khiêu vũ nhỏ phụ hoạ. Bessie Smith, Ma Rainey, và Chippie Hill là những ca sỹ nổi tiếng nhất ở phong cách này.

Sau năm 1930, phong cách nhạc blues bắt đầu thay đổi. Đi theo sự phát triển của các giọng ca blues, sự phát triển trình độ của một số các nhạc công cũng tăng lên đáng kể. Vào lúc này, những nghệ sỹ nhạc blues lớn có thể sử dụng nhạc cụ tốt như là giọng hát của họ. Vào thời gian khởi đầu, các nhạc công thường bắt chước phong cách của các ca sỹ nhưng đến thời điểm này một số ca sỹ cũng đã phải sao chép phong cách của các nhạc công lớn.

Một số các nghệ sỹ chính trong thời kỳ này có thể kể đến như

Joe Turner (có ảnh hưởng lớn tới Rock ‘n’ Roll sau này) ,

Joe Williams, và Jimmy Rushing (Williams và Rushing đều hát trong ban nhạc nổi tiếng Count Basie).

Các nhạc sỹ có thể vừa hát vùa đệm đàn nổi tiếng có thể kể tới Louis “Satchmo” Armstrong, B.B.King, Ray Charles.

Blues được sử dụng nhiều trong tất cả các loại nhạc phổ thông.

 

Nhạc Country (đồng quê)

Trước hết, có thể hiểu ngay ” nhạc Country” đó là nhạc đồng quê. Khi âm thanh và giai điệu nổi lên, người ta có thể hình dung đến những đồng cỏ bạc ngàn xanh mướt – với những chàng cao bồi miền Tây lãng du. Nói đúng hơn, nhạc Country gắn liền với một nển văn hoá cao bồi mà ở Mỹ chính là quê hương. Nhạc đồng quê ra đời ở Mỹ dựa trên nhạc thượng du miền Nam, chịu nhiều ảnh hưởng từ những hệ thống nhạc khác như Blues, Jazz. Loại nhạc này thường có giai điệu trầm buồn.

Nguồn gốc của chúng xuất phát từ những người dân Anh nhập cư đến Mỹ, họ mang theo những ca khúc Ballad Celtic với phần lời theo lối kể chuyện mộc mạc, bình dân. Nói khác đi, cội nguồn của nhạc nhạc country chính là những bài dân ca mà những người dân nhập cư từ Anh, Scotland, Iraland đã mang đến vùng núi Appalanchian ở miền Nam Mỹ vào thế kỷ 18 – 19.

Ðến thập niên 1930 – 1940, những bộ phim về cao bồi Viễn Tây đã làm dậy lên làn sóng nhạc country. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, ngành công nghiệp ghi âm bùng nổ, Nashville trở thành chiếc nôi của nhạc Country. Và đến những năm 60, dòng nhạc này thực sự ở đỉnh cao với người khởi xướng là Bob Dylan và nhóm byrds. http://www.bobdylan.com/songs/

Dòng nhạc thanh cảnh, không cần nhiều nhạc cụ, đôi khi chỉ là một cây guitar; người ta vẫn say sưa hát. Nội dung đơn giản, chủ đề thường gặp ở nhạc Country là những triết lý nhỏ về cuộc sống, cuộc đời của những người lao động, sự cô đơn hay những niềm tin và các mối quan hệ trong gia đình.

Ngày nay, để đáp ứng thị hiếu của người nghe, các nhà sản xuất thường pha trộn giữa Country với nhạc Pop và Rock đã phần nào làm cho người nghe, nhất là giới trẻ, khó có thể nhận và phân biệt từng loại nhạc ví dụ nhưnhững bài hát của Shania Twain http://www.shania-twain.com/ ; Garth Brooks; Trisha Yearwood. Tuy nhiên, cũng phải nhờ họ mà nhạc nhạc Country không bị rơi vào sự lãng quên.

 

Nhạc Rock

Còn gọi là Rock’N’ Roll, do Elvis Presley khai sinh từ thập kỷ 50. http://www.elvis.com

Dựa trên tiết tấu của ca ba loại nhạc trước đó (Blues, Jazz, Country) nhưng Rock lại có tiết tấu mạnh và nhanh, thường sử dụng các loại nhạc cụ điện tử.

Rock chú ý tới hiệu ứng âm thanh của các nhạc cụ hơn là giọng hát.

“Folk rock” (rock dân ca) là loại rock nhẹ giống như “slow-rock”, “soft-rock”…

“Hard rock” là loại Rock nặng với tiết tấu dữ dội và âm thanh cực lớn, chát chúa. Cùng thể loại này là “heavy rock”, “heavy metal”.

Tất cả những ban nhạc nổi tiếng thập kỷ 60 đều bắt đầu bằng nhạc rock and roll. Đó là Beatles http://www.beatlesagain.com/ , Rolling Stones, The Kinds, The Who, Manfred Mann, The Animals. Trong thời gian này, nơi bùng nổ nhạc trẻ một cách mạnh mẽ nhất là Liverpool. Tại thành phố này xuất hiện rất nhiều “câu lạc bộ” dạng đó lần đầu tiên có một ban nhạc tên là The Quarryman biểu diễn. Sau đó, ban nhạc đổi tên là Sliver Beatles rồi trở thành The Beatles. Có thể kể ra những nhạc phẩm ban đầu của The Beatles mang đầy hơi hướng rock and roll như “Be Bop A-Lulla”, “Kansas City”, “Sweet Little Sixteen”, “Matchbox”…

 

Vào thời kỳ này, xuất hiện một ban nhạc cũng rất nổi tiếng, cạnh tranh củng Beatles trong nhiều năm ròng. Đó là Rolling Stones với những ca khúc rythm and blues mạnh mẽ. Các thành viên ban nhạc này xuất thân từ khu phố lao động Richmond (London – Anh). Họ thường biểu diễn nhạc blues và rythm and blues tại các quán rượu trong vùng vào các chiều thứ bảy.

Năm 1963, Andrew Loog Oldham, một ông bầu âm nhạc 19 tuổi, đã phát hiện ra tài nghệ tuyệt vời của họ. Nhưng lúc bấy giờ, cả Oldham lẫn ban nhạc Rolling Stones không có tiền may quần áo biểu diễn. Bởi vậy họ lên sân khấu trong trang phục thường ngày. Không ngờ điều này lại gây ấn tượng khác thường đối với khán giả. Trong lúc biểu diễn, Rolling Stones cũng chối bỏ hoàn toàn kiểu dáng, phong cách của các ban nhạc khác.

Cũng cần nhắc đến một ban nhạc đặc biệt. Đó là ban nhạc The Animals (cũng của nước Anh) chuyên chơi loại nhạc hỗn hợp của rock and roll, blues và pop. Lúc ban đầu, ban nhạc mang tên Alan Price Combo. Sau này, khán giả gọi họ là The Animals (những con thú) bởi phong cách biểu diễn khá cuồng nhiệt và bởi âm nhạc của họ rất sôi động. Một trong những nhạc phẩm thành công nhất của The Animals là “The House Of The Rising Sun”. Năm 1964, bài hát này làm sôi động không chỉ nước Anh mà cả nước Mỹ – nơi mà khán thính giả thuộc loại “không dễ tính”. Lời bài hát có thể tìm thấy ở đây http://home.swipnet.se/capotasto/lyrics1/h…_rising_sun.htm (http://home.swipnet.se/capotasto/lyrics1/house_of_the_rising_sun.htm)

Nhạc pop

Là loại nhạc phổ biến (popular) hiện nay ở hầu hết các ca khúc như của Celine Dion, Madonna, Frank Sinatra, Brandy…Pop chú trọng nhiều hơn Rock về giai điệu và nhịp điệu, âm thanh cũng mềm hơn.

Nhạc pop và rock phát triển nhanh nhất ở nước Anh. Những năm 1960 – 1963 là khoảng thời gian loại nhạc rock and roll được thay thế bằng một tào lưu nhạc trẻ dưới cái tên nhạc pop. Đó cũng là khoảng thời gian mà rất nhiều ca sĩ trở nên nổi tiếng, trong đó có bộ ba ca sĩ nổi tiếng nhất ở Anh là Cliff Richard, Adam Faith và Bill Fury.

 

FLAMENCO

Flamenco là một loại hình nghệ thuật mang đậm phong cách đặc trưng của nền văn hoá Tây Ban Nha, tổng hợp từ ba thể loại : Cante, bài hát; Baile, vũ điệu, và Guitarra, nhạc công chơi guitar. Khi mới nghe Flamenco, ta dễ lầm tưởng đó chỉ là những giai điệu đơn giản được hoà trong tiếng gõ nhịp cùng những vũ nữ với bộ váy xoè nhiều lớp, nhưng thật sự đây là loại hình nghệ thuật độc đáo và tràn đầy rung cảm nghệ thuật.

Những người Gyspi ở miền Nam Tây Ban Nha được coi là người sáng tạo ra, tuy nhiên những bài hát và điệu nhảay dân gian Tây Ban Nha, cùng sự giao thoa của các nền văn hoá trong nhiều thế kỷ đã góp phần trực tiếp và gián tiếp cho sự hình thành của Flamenco. Flamenco được nhắc tới trong văn học đầu tiên ở tác phẩm “Cartas Marruecas” của Cadalso vào năm 1774. Trong khoảng những năm 1765 và 1860, những trường học dạy về Flamenco được hình thành với tên gọi: Jerez de la Frontera và Triana (Seville). Trong thời kỳ này, Flamenco bắt đầu được trình diễn tại những phòng khiêu vũ. Flamenco sơ kỳ mới chỉ là những âm thanh cùng tiếng vỗ tay theo giai điệu. Sau này mới có thêm biểu diễn guitar.Từ những năm 1910 tới 1955, hát nhạc Flamenco gọi là upera flamenca, với những dạng nhạc dễ hát như fandagos và cantes de ida y vuelta. Những ca khúc có giai điệu cơ bản với đặc trưng không thể thiếu, đó là đàn guitar và tiếng vỗ như lôi cuốn mọi người cùng tham gia. Hai thể loại chính trong hát Flamenco, đó là : “Jondo”- thể hiện sự sâu sắc, uyên thâm, nghiêm túc, nội dung thường thể hiện thái độ, phản ứng của những người dân nộ lệ bị áp bức trong nhiều thế kỷ; thể loại thứ hai là “chico”- mang âm hưởng vui tươi, nhẹ nhàng. Khúc nhạc “El cante” được coi là phần quan trọng nhất, khởi nguồn sáng tạo và đam mê cho người chơi guitar “el toque” và vũ điệu “el baile”. Khác với vũ đạo Châu Âu, Flamenco mang hơi hướng phương Đông. Vũ công qua động tác và thần thái phải truyền tải được những ý tưởng, tình cảm và nội dung của ca khúc. Những nhịp điệu được kết hợp cùng tiếng gõ chân kỹ thuật, vì vậy giày nhảy của vũ công thường là loại đặc biệt với nhiều đinh tán ở đế giày. Y phục của người vũ nữ là những bộ váy xoè nhiều lớp, ôm sát người để tôn lên dáng điệu yêu kiều, uyển chuyển

Từ 1915, Flamenco được biểu diễn khắp mọi nơi trên thế giới, và trở thành một môn nghệ thuật khiến mọi người say mê ham thích. Năm 1955 là thời kỳ phục hưng của Flamenco gắn liền với tên tuổi nghệ sỹ vĩ đại Antonio Mairena. Không chỉ những vũ công và các ca sỹ mới trình diễn Flamenco ở những nhà hát lớn mà còn có cả những tay guitar. Thực sự Flamenco đã ảnh hưởng không nhỏ tới những dòng nhạc như Jazz, Salsa, Bossa Nova…Vũ điệu cũng dần có sự thay đổi, những vũ nữ thể hiện cho thấy sự thần thái của họ hơn mức độ nghệ thuật. Nhạc công guitar cũng bắt đầu tách ra để thể hiện nghệ thuật độc tấu, nghệ sỹ bậc thầy Paco de Lucia chính là người đi tiên phong cho sự phát triển này. Guitar Flamenco dần dần trở thành một trường phái độc lập với sức hấp dẫn và vị thế riêng. Tuy nhiên trong chiến tranh thế giới thứ hai, guitar Flamenco cũng bị gián đoạn một thời gian dài. Kỹ thuật guitar có những nét khác so với guitar hiện đại. Nhiều người cho rằng chất liệu gỗ đóng vai trò quan trong trong cây đàn. Gỗ đàn flamenco luôn nhẹ hơn gỗ đàn thường, vì vậy âm thanh cũng nhẹ và vang hơn. Ở loại đàn này có một bộ phận gọi là golpeadores, để bảo vệ thùng đàn trước những cú đánh móng nhanh và mạnh. Những nghệ sỹ guitar tên tuổi đóng góp cho dòng nhạc này phải kể tới: Javier Molina, Nino Ricardo, Ramun Montoya, Sabicas…. và nghệ sỹ tài danh Paco de Lucia.Ngày nay, Flamenco phát triển thành nhiều thể loại và được thể hiện bằng nhiều cách khác nhau, tựu chung chia làm hai trường phái : cổ điển và hiện đại. Dòng nhạc hiện đại có xu hướng pha trộn giữa Flamenco với nhạc jazz, blues, rock và nhạc pop. Hàng năm vào tháng 9 tại Tây Ban Nha, thường tổ chức những festival quan trọng, đó là ngày hội để thể hiện những tinh hoa của dòng nhạc Flamenco. Hãy nghe nhận xét của nghệ sỹ Carmen Linares – người được kính trọng và nổi tiếng tại Tây Ban Nha: “Để hiểu kỹ về Flamenco quả thật không dễ, nhưng nó lại gợi được sự đồng cảm. Khi đi biểu diễn tại nước ngoài, tôi biết có những người không hiểu lời ca tôi đang hát, nhưng họ có thể rung cảm với giai điệu và cảm nhận được mối liên hệ trong tâm hồn với những người xung quanh. Flamenco giống như chính cuộc sống vậy, chúng tôi hát về tình yêu, hạnh phúc, nỗi đau khổ…, về tất cả những gì con người từng trải qua trong cuộc đời mình”.

Sưu tầm

 
Leave a comment

Posted by on Tháng Mười Hai 21, 2011 in Âm thanh

 

Âm thanh HI-END là gì?

Bộ dàn Hi-End tuy cũng dùng để thưởng thức âm nhạc trong gia đình nhưng nó hoàn toàn khác với các thiết bị âm thanh thông dụng. Các sản phẩm âm thanh Hi-End phối hợp với nhau và hình thành nên một hệ thống các thiết bị tái tạo âm thanh rất độc đáo. Chúng không giống những hệ thống stereo vẫn được bày bán rộng rãi trong các cửa hàng hay siêu thị điện tử.

Đặc trưng của âm thanh Hi-End thể hiện rất rõ qua các thiết bị âm thanh Hi-End. Chúng được thiết kế bằng tài nghệ và nhạc cảm của những kỹ sư, những nghệ nhân đam mê âm nhạc. Ở họ có những kỹ năng thuần thục để chế tạo ra các thiết bị âm thanh cùng đôi tai cảm nhận tinh tế những âm thanh do các sản phẩm của mình tạo ra, để từng bước đưa người nghe đến gần hơn với âm thanh thực sự.

Trong suy nghĩ của nhiều người, thiết bị âm thanh Hi-End luôn là những thiết bị phức tạp với nhiều tính năng cao siêu và giá cả trên trời và chúng chỉ hướng đến túi tiền của triệu phú. Thậm chí có người còn cho rằng âm thanh và thiết bị Hi-End rất phức tạp, chỉ dành cho những người trong nghề, hay những thính giả sành điệu, những người giàu có thích khoa trương mà không phải dành cho những người bình dân. Tất cả những điều trên không thuộc về âm thanh Hi-End vì:

Thứ nhất, thuật ngữ “Hi-End” là đề cập đến khả năng trình tấu của một sản phẩm, không liên quan đến giá cả của nó. Nhiều hệ thống thực sự là Hi-End nhưng giá tiền lại thấp hơn giá của các hệ thống “tất cả trong một” bán trong các cửa hàng, có các bộ dàn có giá vừa phải song đã thể hiện chất lượng xuất sắc. Đó là những bộ dàn nằm trong khả năng tài chính của nhiều người tiêu dùng bình dân. Tuy nhiều thiết bị Hi-End không rẻ tiền, nhưng điều đó không có nghĩa là bạn phải đi vay tiền để mua trả góp một bộ dàn chất lượng. Thực ra, nhiều bộ dàn được coi là nghe tuyệt đỉnh đôi khi không đắt đỏ như bạn tưởng.

Thứ hai, âm thanh Hi-End thuộc về vấn đề cảm nhận âm nhạc. Trên thực tế, chính các hệ thống Hi-End thực thụ lại dễ sử dụng hơn các hệ thống âm thanh sản xuất hàng loạt đang bày bán trên thị trường với chất lượng âm thanh trung bình. Do đó, các thiết bị Hi-End thường rất giản dị, hoàn toàn không có những tính năng, chi tiết phức tạp, khó vận hành. Âm thanh Hi-End chỉ tập trung vào chất lượng âm nhạc không tập trung vào xử lý các hiệu ứng âm thanh giả tạo. Âm thanh Hi-End là âm thanh dành cho người yêu nhạc, chứ không phải những người mê các tính năng của đồ điện tử.

Thứ ba, bất kỳ ai thích nghe nhạc cũng có thể cảm nhận được ngay cái hay, cái đẹp của một màn trình diễn âm thanh hay. Không cần phải có “một đôi tai vàng” mới phân biệt được âm thanh nào là âm thanh đẹp. Sự khác nhau giữa việc thể hiện âm thanh tốt hay kém rất dễ nhận biết. Những phản ứng – thông thường là ngạc nhiên và thích thú – khi lần đầu tiên nghe một hệ thống âm thanh Hi-End thực thụ, có thể bắt gặp ở tất cả mọi người, nếu bạn yêu thích nhạc.

Vậy âm thanh Hi-End là gì ?

Đó là khi mà các thiết bị âm thanh bị quên lãng, chỉ có các nhạc công và ca sĩ hiện hữu trong phòng nghe của bạn. Đó là khi mà bạn cảm thấy tiếng nói của người sáng tác và người trình diễn vượt qua không gian và thời gian để đến với bạn, chuyện trò với bạn. Đó là khi bạn cảm thấy như đắm chìm trong những cơn sóng dạt dào của đại dương âm nhạc… Và đó là khi thế giới vật chất hoàn toàn biến mất, chỉ còn lại tiềm thức của bạn với âm nhạc – đó chính là âm thanh Hi-End

 
Leave a comment

Posted by on Tháng Mười Hai 21, 2011 in Âm thanh

 
 
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.